Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

1

2002-2006: Cầu thủ chạy cánh

Ronaldo ra mắt đội một Sporting Lisbon năm 17 tuổi, khi vào thay người trong hiệp hai trận thua trên sân nhà trước Partizan ở Cup UEFA. Anh lúc ấy trông gày nhom, nhăn nhúm trong chiếc áo đấu quá rộng. Nhưng Sporting biết họ sở hữu một tài năng kiệt xuất, dù chưa thể giúp anh ta mạnh mẽ hơn về mặt tinh thần và cũng không biết cách sử dụng tốt nhất.

Những kỹ năng rõ ràng nhất của Ronaldo đều liên quan đến trọng tâm: tốc độ trong không gian mở, sải chân dài và khả năng đánh bại đối thủ trong tình huống một đấu một.

Những phẩm chất khác cũng được Ronaldo sớm bộc lộ rõ ràng. Anh hầu như chơi trung phong thời trẻ, nhưng đá rộng hơn khi lên đội một. “Cho anh ta không gian. Hãy để anh ta thở. Hãy để anh ta tìm thấy mình là ai” ký giả ESPN, Garbiel Marcotti nói về thiên hướng chơi bóng của Ronaldo thời đó.

Hầu hết người hâm mộ đều biết Sir Alex Ferguson quyết tâm như thế nào để ký hợp đồng với Ronaldo sau khi chứng kiến cầu thủ trẻ này thể hiện trong trận giao hữu Sporting – Man Utd vào tháng 8/2003. Nhưng thực tế, Man Utd đã theo dõi Ronaldo cả thời gian dài trước đó.

Tuy nhiên, trận đấu kể trên đã khiến Sir Alex quyết định mua cầu thủ 18 tuổi này và đem đến Old Trafford dùng ngay, thay vì để cho Sporting mượn thêm một mùa. Sự quyết đoán ấy giúp Man Utd giành được chữ ký của Ronaldo, trước mũi các đối thủ Arsenal, Valencia, Parma và Barca.

Ronaldo đến Old Trafford và được thừa hưởng chiếc áo số 7 từ David Beckham, người mới bị bán sang Real Madrid và cũng là hình mẫu để Ronaldo noi theo sau này. Khi đó, Ronaldo hãy còn là tảng đất sét chưa được nhào nặn, nhưng anh háo hức với các thể nghiệm.

Ronaldo được khuyến khích thể hiện bản thân và điều đó dẫn tới việc anh ham rê bóng và đánh bại đối thủ bằng các pha qua người. Những bước chạy ma mị của anh bắt đầu mở rộng và in dấu khắp sân, nhưng thói quen cắm xuống mặt sân khiến Ronaldo bỏ lỡ việc quan sát những bước di chuyển của đồng đội hay tìm ra thời cơ tốt để sút.

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ronaldo lúc ấy được xếp đá như một cầu thủ chạy cánh truyền thống. Nhưng “kiểu cúi gằm mặt rê bóng” của anh vẫn khiến các đàn anh ở Man Utd đôi khi thất vọng. “Tại sao cậu đá như ngáo thế nhỉ?”, Gary Neville từng mắng. “Đá tốn bóng quá cậu em, ngẩng cái mặt lên nào”.

Trung phong Ruud van Nistelrooy là một trong những người khó chịu nhất, khi anh mất công chạy vào cấm địa đối phương, nhưng bóng rất hiếm khi được câu vào đúng lúc vì Ronaldo bận giật, lắc, xoay, ngoáy ở ngoài biên. Nistelrooy, vì thế, không bao giờ coi đàn em có thể bén gót Beckham.

Số liệu thống kê của Ronaldo tại Ngoại hạng Anh thời đó chỉ giới hạn ở hai mục: bàn thắng và kiến tạo, nhưng chúng chứng thực quan điểm rằng Ronaldo đang phát triển. Trung bình cứ mỗi 90 phút, Ronaldo có 0,2 pha kiến tạo, và 0,26 bàn thắng, không tính penalty. Đó không phải là hiệu suất tồi với một cầu thủ trẻ.

VCK Euro 2004 mang đến một số liệu thống kê chi tiết hơn về Ronaldo, khi anh 19 tuổi và được sát cánh với thế hệ Vàng của bóng đá BĐN ở giai đoạn thoái trào. Ronaldo, khi đó, có tỷ lệ đi bóng nhiều nhất giải đấu (7,79 lần/trận) và thuộc top sút trúng mục tiêu nhiều nhất (4,1 lần/trận).

Không giống hầu hết giai đoạn về sau của sự nghiệp, ở Euro 2004, Ronaldo luôn nằm trong nhóm đầu bảng cả về hạng mục tắc bóng để giành bóng có chủ đích và đánh chặn (3,29 lần/trận). Có lẽ, ở sân khấu lớn, với tâm thế đội chủ nhà, Ronaldo có nhiều tự do hơn ở Man Utd – nơi có đầy rẫy thành công trước khi anh xuất hiện.

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

2006-2009: Chủ công của Man Utd

Hè 2006, Man Utd ra quyết định mang tính định mệnh – bán Van Nistelrooy cho Real Madrid. Động thái này dọn đường cho sự phát triển hơn nữa không chỉ của Ronaldo, mà còn của Wayne Rooney – một tiền đạo trẻ sinh năm 1985 khác.

Van Nistelrooy khi đó mới 30 tuổi, ghi 150 bàn trên mọi mặt trận trong năm mùa giải gần nhất. Thay vì đưa về một chân sút lừng lẫy khác để thay thế, Sir Alex quyết định đặt niềm tin vào toàn bộ dàn cầu thủ tấn công mà ông có ở mùa giải 2006-2007. Và niềm tin ấy được đền đáp.

Bên cạnh Rooney và Ronaldo, cộng thêm Ole Gunnar Solskjaer đã 33 tuổi và chỉ đá dự bị suốt hai năm gần nhất, hàng công mà Sir Alex sử dụng mùa ấy còn có Louis Saha, tiền đạo quen coi bệnh viện là nhà, chỉ ghi được 24 bàn qua hai năm rưỡi tại Man Utd. Và cả một Alan Smith – người vừa dính chấn thương tồi tệ vào tháng 2/2006, chỉ ghi một bàn qua 33 trận gần nhất.

Man Utd không với tới chức vô địch trong ba mùa giải trước đó – đợt hạn hán danh hiệu dài nhất của CLB trong 15 năm tính đến 2006. Ở mùa 2005-2006, họ thậm chí kém nhà vô địch Chelsea tới 14 điểm. Vụ tuyển mộ lớn duy nhất mà Man Utd thực hiện trong hè 2006 là Michael Carrick, tiền vệ trị giá khoảng 16 triệu USD từ Tottenham.

Về cơ bản, Sir Alex trao hàng công cho Ronaldo và Rooney, dù cả hai đều không phải là tiền đạo chính thống, không phải kiểu trung phong cổ điển. Họ hành động theo kiểu kẻ tung – người hứng, cùng quấy phá mọi hàng thủ. Ronaldo bắt đầu khai thác khả năng không chiến, ghi tám bàn bằng đánh đầu ở Ngoại hạng Anh trong ba mùa liên tiếp, và vượt xa số bàn thắng kỳ vọng (xG), với thông số 3,03 khi đó.

Ronaldo thường xuyên được bố trí bên cánh phải đội hình, nhưng thỉnh thoảng lại đá giữa hoặc chuyển sang cánh trái. Anh có thể di chuyển khắp nơi, tạo ra sự bối rối, hỗn loạn và tàn phá cho đối phương. Và từ khi được giao phó nhiệm vụ tấn công, Ronaldo bắt đầu sút nhiều hơn – trung bình hơn năm lần mỗi trận, nhưng con số này tăng lên đều trong thời gian còn lại của anh tại Man Utd.

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Không chỉ vậy, Ronaldo bắt đầu thích sút xa. Trong 527 cú sút của anh trong ba mùa từ 2006-2009, gần 60% được thực hiện từ ngoài 20 mét. Đó là một dấu ấn trong suốt sự nghiệp của Ronaldo cho dù tính hiệu quả của các pha nã đại bác giảm dần theo thời gian.

Trong giai đoạn này, khả năng sút phạt của Ronaldo cũng tiến bộ kinh hoàng. Riêng mùa 2006-2007, anh ghi chín bàn từ các pha đá phạt hàng rào trên mọi mặt trận.

Để tối ưu hoá hiệu quả khi Ronaldo chơi tự do, HLV Ferguson lần lượt bổ sung các chân sút mới vào năm 2007 (Carlos Tevez) và 2008 (Dimitar Berbatov). Cả hai đều giúp chia sẻ áp lực ghi bàn, nhưng điều quan trọng nhất, không ai là trung phong cổ điển để có thể cản đường của Ronaldo.

Tevez hơi giống Rooney bấy giờ – chăm chỉ, không ích kỷ. Trong khi đó, Berbatov thích tìm cơ hội trong những không gian sâu hơn và thường ưu tiên tìm đồng đội để chuyền bóng hơn là tự ghi bàn.

Những điều chỉnh ấy của Ferguson giúp Man Utd giành ba chức vô địch Ngoại hạng Anh liên tiếp, vô địch Champions League 2007-2008, góp mặt trong một trận chung kết khác, và vào bán kết mùa còn lại. Trong hơn 50 năm qua, Man Utd mới bốn lần đá chung kết Champions League, hoặc năm lần, nếu tính cả giai đoạn giải còn mang tên European Cup (Cup C1), nhưng có đến hai lần diễn ra trong giai đoạn Ronaldo thi đấu.

Thống kê ở giai đoạn 2006-2009 cho thấy Ronaldo đã phát triển vũ bão. Không phải ngẫu nhiên mà ba năm cuối của anh ở Man Utd, khi Ronaldo được chỉ định “gánh team”, cũng là ba năm huy hoàng bậc nhất lịch sử CLB.

2009-2014: Cỗ máy săn bàn

Lời hứa của Ferguson giúp Ronaldo hoàn thành ước nguyện gia nhập Real Madrid trong hè 2009. Ronaldo trở thành cầu thủ đắt giá nhất thế giới lúc ấy, và tham gia kỳ mua sắm rầm rộ nhất của Real trong kỷ nguyên hiện đại với khoản kinh phí kỷ lục.

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ronaldo trở thành cỗ máy săn bàn như thế nào

Ngoài Ronaldo với giá 110 triệu USD, Real còn chiêu mộ Kaka, Karim Benzema, Xabi Alonso và Raul Albiol… để hoàn tất hoá đơn 1 tỉ USD tuyển quân cho tân HLV Manuel Pellegrini. Sự trở lại của nhà tài phiệt xây dựng Florentino Perez trên cương vị Chủ tịch mở ra một kỷ nguyên “Galacticos 2.0” cho Real, sau phiên bản đầu với những Zinedine Zidane, Luis Figo và Ronaldo “béo”, David Beckham, Steve McManaman…

Việc nhồi nhét quá nhiều ngôi sao mới cộng với nhóm sao cũ vào tay một HLV còn khiêm tốn về tên tuổi như Pellegrini là không hợp lý. Nhiệm vụ của HLV này trở nên khó khăn hơn khi phải đối đầu với Barca của HLV Pep Guardiola đang bước vào thời kỳ hoàng kim.

Real về nhì La Liga 2009-2010, nhưng lại bị hất văng khỏi Champions League từ vòng 1/8. Tệ hơn, họ đứng bét bảng La Liga về chỉ số chất lượng của pha dứt điểm với xG chỉ là 0,06. Real năm đó là những nhóm cá nhân hơn là một tập thể đồng nhất.

Ronaldo lại đứng lên nhận trách nhiệm “gánh team” như hồi ở Man Utd. Anh tích cực sút, chăm chỉ rê dắt bóng và tấn công ở cả ba phía: bên phải, bên trái và trung tâm. Ronaldo kết thúc mùa đầu tiên cùng Real với 33 bàn, trong đó 26 bàn ở La Liga, chỉ kém Gonzalo Higuain một bàn.

Mọi thứ thay đổi khi Jose Mourinho đến thay Pellegrini. Mối quan hệ giữa bộ đôi người Bồ Đào Nha nhanh chóng thăng hoa, và “Người Đặc Biệt” tìm thấy cho Ronaldo một vị trí thích hợp nhất: chuyên hoạt động bên cánh trái và thoải mái xâm nhập vào trung tâm.

Ronaldo vẫn sút rất nhiều – trung bình 6,91 lần mỗi trận trong suốt ba mùa giải do Mourinho huấn luyện. Nhưng chất lượng các cú sút đã tốt hơn. Hiệu suất giữa số bàn thắng kỳ vọng và số lần sút của Ronaldo tăng gấp đôi mùa trước, lên mức 0,12.

Triết lý bóng đá của Mourinho ít dựa trên lối chơi sở hữu bóng như với Pellegrini. Và Ronaldo thì phát triển mạnh mẽ nhờ khả năng di chuyển nhanh, chạy chỗ linh hoạt, và đột biến trong không gian hẹp. Anh thường đổi chỗ với Higuain hoặc Benzema.

Higuain chính là một tiền đạo chuẩn mực trong vòng cấm, nhưng có kỹ thuật và tầm nhìn để thiết lập mối cộng tác với các tiền vệ cánh và tiền vệ, nhằm tạo ra nhiều tình huống sút bóng hơn. Trong khi đó, Benzema lại hơi giống Tevez và Rooney ở Man Utd, khi bao phủ các khu vực rộng lớn của hàng công, chạy không biết mệt, cho phép Ronaldo thoải mái hoạt động. Họ sẽ tạo thành “song sát” khủng khiếp trong phần lớn thập niên 2010 của Real.

Ronaldo vẫn còn rất hấp dẫn với sân khấu thị phi, nhưng tính cách kỳ dị của HLV Mourinho như ánh đèn cao áp thu hút hết mọi bọ, bướm, thiêu thân trong giới truyền thông. Nhờ đó, cuộc sống cá nhân của Ronaldo cũng ổn định hơn. Anh có mối quan hệ tình ái bền vững bên người đẹp Nga Irina Shayk, rồi làm bố đơn thân với phương pháp thuê đẻ. Khi bước vào giai đoạn giữa của sự nghiệp, Ronaldo trở nên bận bịu với việc giữ gìn và phát triển hình thể ở mức tốt nhất.

Nguồn: VnExpress.net