Truy thu thuế giá trị gia tăng với thư tín dụng có hợp lý?

3

Trong công văn gửi các cục thuế địa phương mới đây, Tổng cục Thuế cho biết, từ ngày 1/1/2011, khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thì dịch vụ thư tín dụng (L/C) là hình thức cung ứng dịch vụ thanh toán. Do vậy, dịch vụ này sẽ không thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Theo đó, Tổng cục Thuế yêu cầu cục thuế các tỉnh, thành phố rà soát, hướng dẫn các tổ chức tín dụng có phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ thư tín dụng (L/C) thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo đúng quy định.

Thực hiện yêu cầu này, hiện các cơ quan thuế địa phương đã yêu cầu các ngân hàng rà soát, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng đối với khoản thu từ thư tín dụng phát sinh từ năm 2011 đến nay.

Truy thu thuế giá trị gia tăng với thư tín dụng có hợp lý?

Truy thu thuế giá trị gia tăng với thư tín dụng có hợp lý?

Trước vụ việc này, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) mới đây đã kiến nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Thuế không áp dụng thuế giá trị gia tăng với nghiệp vụ phát hành thư tín dụng (L/C). Lý do là các khoản phí liên quan trực tiếp đến phát hành, xác nhận, thông báo L/C để bảo lãnh thanh toán cho khách hàng là phí thu trên hoạt động cấp tín dụng – không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. 

Ngoài ra, đơn vị này lo ngại việc truy thu thuế, phạt kê khai sai và tiền chậm nộp thuế giá trị gia tăng đối với các khoản thu liên quan đến thư tín dụng phát sinh từ đầu năm 2011 đến nay sẽ gây tác động xáo trộn lớn, ảnh hưởng xấu tới hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Hơn nữa, Hiệp hội Ngân hàng cho rằng thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu, nếu phải nộp bổ sung thì ngân hàng phải thu lại từ khách hàng. Trong lúc nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, việc đồng loạt truy thu tiền thuế giá trị gia tăng là không khả thi, ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và các doanh nghiệp liên quan. Ngoài ra, việc yêu cầu “hồi tố” sẽ làm phát sinh một loạt chi phí xã hội do phải điều chỉnh hóa đơn, số liệu về kê khai, nộp thuế, khấu trừ thuế…

Chia sẻ với VnExpress, ông Nguyễn Văn Phụng – Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế cho biết, quyết định hồi tố, truy thu thuế giá trị gia tăng với dịch vụ thư tín dụng (L/C) của các tổ chức tín dụng từ 2011 tới nay đều dựa trên quy định của pháp luật. 

Nhìn nhận vấn đề trên, Luât sư Trần Minh Hải – Giám đốc Công ty Luật Basico phân tích, nghiệp vụ phát hành thư tín dụng – mở tài khoản tín dụng cho khách hàng thanh toán với nước ngoài, về hình thức giống một dịch vụ. Nhưng thực tế theo ông, đó là cam kết của ngân hàng ở Việt Nam với ngân hàng nước ngoài nhằm bảo đảm trách nhiệm của khách hàng tại Việt Nam khi họ tiến hành giao dịch với đối tác nước ngoài.

Vì vậy, ngân hàng luôn đòi hỏi khách hàng phải trả một khoản phí cam kết khi mở thư tín dụng để dự phòng trường hợp khách hàng có vi phạm hợp đồng với đối tác.”Đây là một loại hình mang tính chất tín dụng nên không có cơ sở để áp thuế”, ông Hải nhận xét.

Tuy nhiên, theo Luật Thuế giá trị gia tăng, các hoạt động liên quan tới dịch vụ của ngân hàng đều phải chịu thuế giá trị gia tăng, trừ dịch vụ vay vốn. Vì vậy, cơ quan thuế coi đây là một loại phí thu trên dịch vụ nên quyết định truy thu, hồi tố thuế. “Giữa hai chủ thể – cơ quan thuế và ngân hàng, đang có sự khác biệt trong cách hiểu và vận dụng các quy định pháp luật”, ông Hải đánh giá.

Tương tự, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, khoản phí ngân hàng thu về từ dịch vụ bảo lãnh sẽ được hạch toán vào doanh thu hoạt động kinh doanh, làm cơ sở để kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo ông Hiếu, cơ quan thuế chỉ có đầy đủ cơ sở pháp lý để áp thuế giá trị gia tăng với dịch vụ thư tín dụng (L/C) khi ngân hàng nắm giữ đồng thời hai vai trò – phát hành bảo lãnh tính dụng và giao dịch hàng hoá.

“Thực tế ngân hàng chỉ là đơn vị phát hành tín dụng thư, nếu muốn thu thuế thì cơ quan thuế phải tìm tới người mua và bán hàng”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Còn Luật sư Trương Thanh Đức – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho rằng, việc truy thu, hồi tố thuế là không công bằng với các ngân hàng – vốn chỉ là cơ quan trung gian, thu thuế hộ Nhà nước. Theo đó, một loạt chi phí sẽ phát sinh khi các ngân hàng phải điều chỉnh hóa đơn, số liệu kê khai – nộp – khấu trừ thuế.

“Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế phải yêu cầu khách hàng chủ động kê khai, nộp thuế cho ngân hàng chứ không thể buộc họ phải chịu trách nhiệm này”, ông Đức nói

Ông cũng đề xuất Luật Thuế giá trị gia tăng phải phân loại rõ ràng giữa tín dụng và các loại hình dịch vụ phải chịu thuế của ngân hàng, tránh xảy ra truy thu, hồi tố thuế sau một thời gian thực hiện Luật.

Hoàng Thắng

Nguồn: VnExpress.net